Để lâm nghiệp Lào Cai phát triển bền vững

Chủ động các vườn ươm giống cây lâm nghiệp đạt chuẩn để trồng rừng.

Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 636.403 ha, trong đó gần 430.000 ha quy hoạch cho lâm nghiệp, chiếm 67,5% diện tích tự nhiên; diện tích có rừng 353.597 ha, diện tích chưa có rừng 75.939 ha. Kết quả này là nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong nhiều năm qua, đã khắc phục những bất lợi về địa kinh tế, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, nâng cao đời sống người trồng rừng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giúp Lào Cai bảo vệ môi trường sống, phòng tránh thiên tai.

Thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020, năm 2016, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 53,8% và dự kiến năm 2018 tăng lên 54,9%; năm 2016, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 1.400 tỷ đồng, dự kiến tăng lên 1.800 tỷ đồng năm 2018, tăng bình quân 133 tỷ đồng/năm. Công tác phát triển rừng có sự phát triển mạnh mẽ, trong 3 năm (2016 - 2018), đã trồng được 23.423 ha, bình quân 7.808 ha/năm. Công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục có nhiều tiến bộ, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt. Năng suất rừng trồng đạt 18 m3/ha/năm và 100% là diện tích trồng rừng gỗ lớn. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng từ 50.643 m3 năm 2015 lên khoảng 120.000 m3 năm 2018, tương ứng tăng 137%. Đến tháng 8/2018, đã có hơn 5.735 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững theo tiêu chuẩn của FSC.

Mục tiêu trong giai đoạn 2016 - 2020 đặt ra là: “Nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích”.

Cụ thể, về kinh tế: Chú trọng việc đầu tư, định hướng phát triển theo thứ tự ưu tiên: Cây gỗ lớn; cây bản địa, cây đặc hữu; loài cây đa mục đích (quế, sơn tra, trẩu, hồi và cây bồ đề lấy nhựa cánh kiến trắng; dược liệu, lâm sản ngoài gỗ).

Về chế biến: Chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm tại địa phương, trong đó có 2 nhà máy chế biến gỗ MDF, ván ghép thanh, ván ghép tre (công suất 150.000 m3 sản phẩm/năm), ngoài ra còn có gần 300 cơ sở ván bóc, viên nén mùn cưa, chế biến tinh dầu quế xuất khẩu. Đã có 5 đơn vị hoàn thành xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và 1 đơn vị đã được cấp chứng chỉ bền vững FSC. Hằng năm đã sản xuất 80.000 m3 - 100.000 m3 gỗ sản phẩm; 200 tấn dầu quế; sản phẩm quế, thảo quả và lâm sản ngoài gỗ khác khoảng 500 tấn/năm. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản qua cửa khẩu Lào Cai khoảng 40 triệu USD/năm.

Về xã hội: Phát triển lâm nghiệp gắn với việc tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số và khai thác, bảo tồn văn hóa, kiến thức bản địa của các dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức và đảm bảo ổn định xã hội.

Về môi trường: Bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn, từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch...

Riêng đối với Lào Cai là tỉnh biên giới còn có mục tiêu bảo vệ chủ quyền biên giới, góp phần giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia.
Trong những năm qua, với khoảng 80% dân số sống ở khu vực nông thôn, miền núi, mỗi năm tỉnh Lào Cai bố trí kinh phí khoảng 70% vốn đầu tư phát triển vào khu vực này, đồng thời lồng ghép các chương trình: Bảo vệ phát triển rừng bền vững, chi trả dịch vụ môi trường rừng, nguồn vồn ODA hỗ trợ trồng rừng sau đầu tư, khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ xây dựng các mô hình lâm nghiệp nâng cao sinh kế, thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất lâm nghiệp (phát triển vùng nguyên liệu gắn với xây dựng các nhà máy chế biến)…

Sự đổi mới về cách làm và cách tiếp cận trong công tác bảo vệ và phát triển rừng đã đem lại thu nhập cao cho người làm nghề rừng. Hiện có hàng nghìn hộ tại các huyện Bảo Thắng, Bảo Yên, Bắc Hà... có thu nhập 400 đến 500 triệu đồng/ha từ cây quế; nhiều hộ có thu nhập hàng chục triệu đồng từ lâm sản ngoài gỗ như thảo quả, sa nhân, dược liệu dưới tán rừng và đặc biệt, thông qua Chương trình UN-REDD đã thực hiện nhiều mô hình sản xuất, trong đó có mô hình “Hồng không hạt Bảo Hà”, tạo thêm một thương hiệu sản phẩm mới và được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quyết định mở rộng quy mô lên 500 ha tại huyện Bảo Yên và huyện Văn Bàn.

Với sự đổi mới về cách tiếp cận là “người dân có thu nhập từ rừng thì sẽ bảo vệ rừng hiệu quả hơn”, đồng thời có các biện pháp cụ thể trong quản lý, chỉ đạo, điều hành, nên tỷ lệ che phủ rừng của Lào Cai đứng thứ 11/63 tỉnh, thành phố và cao hơn 12,55% so với bình quân chung toàn quốc.

Công tác bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên luôn được cấp ủy, chính quyền cơ sở chú trọng. Tỉnh có 3 khu rừng đặc dụng: Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn và Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, với diện tích 64.544 ha. Đây là những cơ sở bảo tồn các loài sinh cảnh đặc hữu, cứu hộ động, thực vật hiệu quả. Để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lâm nghiệp, tỉnh đã báo cáo với Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thí điểm việc hợp tác công - tư trong việc khoán bảo vệ rừng cho 2 doanh nghiệp có quyền lợi trực tiếp từ rừng (giao thí điểm thực hiện khoán trong 5 năm, hằng năm có tổ chức giám sát, đánh giá…); đồng thời phát huy kiến thức bản địa, văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số tổ chức khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư thôn, bản để người dân được trực tiếp bàn bạc, thống nhất, chia sẻ lợi ích từ rừng.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng bền vững, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tham mưu UBND tỉnh kiện toàn ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 các cấp. Chỉ đạo lực lượng kiểm lâm thực hiện nghiêm các chỉ thị của Trung ương và của tỉnh về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh giai đoạn 2016 - 2020. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn bám sát địa bàn, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân, thực hiện hương ước, quy ước bảo vệ rừng, ký cam kết bảo vệ rừng; tổ chức tuần tra, canh gác, cập nhật, theo dõi thông tin cảnh báo cháy rừng để kịp thời phát hiện và huy động lực lượng tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra; tổ chức thực hiện tốt quy chế vùng giáp ranh, trao đổi thông tin và huy động lực lượng tham gia với các tỉnh trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

Tiếp tục lựa chọn giống phù hợp có năng suất, chất lượng và liên kết với Trung tâm Lâm sản ngoài gỗ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam lựa chọn vườn giống, rừng giống cung cấp cho địa phương. Quản lý chặt chẽ 22 cơ sở sản xuất để cung ứng khoảng 40 triệu cây giống đảm bảo chất lượng cho kế hoạch trồng rừng trong các năm tới. Thực hiện 100% trồng rừng gỗ lớn, khuyến khích thực hiện thâm canh rừng... để nâng cao giá trị và sinh khối rừng/đơn vị diện tích. Diện tích rừng trồng sản xuất được áp dụng thâm canh hiện nay đạt trên 50% diện tích rừng trồng hằng năm, đặc biệt diện tích trồng cây quế…

Nguồn: http://www.baolaocai.vn

Tin xem nhiều

Tài liệu kỹ thuật chăn nuôi thỏ - Phần 5

Phần 5: KỸ THUẬT CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN Ở THỎ CÁI

1. ...

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăng chấm

Đặc điểm hình thái cá lăng chấm: Thân dài. Đầu dẹp bằng, thân và đuôi dẹp bên. Có 4 đôi ...

Nuôi cá lăng nha trong lồng bè

Cá lăng nha có tên khoa học là Mystus Wyckiioides, là loài cá nước ngọt, sống nhiều ở các nước ...

Kỹ thuật nuôi cá lăng vàng

Cá lăng vàng là một trong những loài cá lăng hiện diện ở các thủy vực nước ngọt và lợ ...

Kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm

Lăng nha (Mystus wyckiioides) là loài cá nước ngọt, thịt trắng chắc, không xương dăm, mùi vị thơm ngon, giá ...

Video xem nhiều

Kỹ thuật bón phân

(Nguồn THVL)

Dưa hấu không hạt - nông nghiệp công nghệ cao

Lâu nay mọi người thường khó chịu khi gặp phải vô số hạt cứng trong ruột dưa hấu. ...