Nguyên nhân bệnh chết xanh, bệnh rạn vỏ trái và hương pháp phòng bệnh trên quýt hồng

Nguyên nhân bệnh chết xanh và rạn vỏ và phương pháp phòng bệnh trên quýt hồng

1. Tác nhân: Do nấm Phytophthora palmivora, Fusarium solani, vi khuẩn Xanthomonas campestris và nhện rễ Rhizoglyphus sp. (họ Acaridae) gây ra

2. Triệu chứng:

- Lá và trái còn xanh, nhỏ, héo sau đó chuyển vàng nhạt dính trên cành ít rụng, cây bị bệnh sẽ chết rất nhanh

3. Nguồn bệnh và phương cách lây lan

- Nấm, vi khuẩn và nhện, lưu tồn trong đất, rễ cây và xác bả thực vật

- Nguồn nước tưới trong vườn cũng là yếu tố làm cho nấm, vi khuẩn phát tán, lây lan rất nhanh trong vườn và trong cùng khu vực.

- Bệnh thường lưu tồn ở các vùng trũng, nước tưới, mưa, gió, con người, động vật do đi lại. Cũng là yếu tố làm cho nấm, vi khuẩn phát tán, lây lan rất nhanh trong vườn và trong cùng khu vực.

4. Yêu cầu kỹ thuật quản lý bệnh

4.1. Cây giống: Chọn giống và cây con và giá thể không nhiễm bệnh để trồng.

-4.2.Thiết lập vườn: Chọn vùng đất cao, thoát nước tốt, các cây nhận đầy đủ ánh sáng để trồng cây quýt.

Hoàn thiện hệ thống đê bao của vườn, vùng để’ hạn chế ngập úng, lây nhiễm mầm bệnh từ vườn khác Thiết kế lối đi lại, chăm sóc cách xa hệ thống rễ.

Xử lý đất trước khi trồng bằng cách phoi nắng và các loại thuốc trừ nấm đất có gốc đồng, Fosetyl- aluminium hoặc Metalaxyl

Trồng cây với mật độ thích hợp, không nên trồng dày, khoảng cách trồng khuyến cáo

Nâng cao tầng canh tác, cần được lên líp và sử dụng lớp đất mặt đã phoi khô để đắp mô.

4.3. Bón phân hữu cơ truyền thống:

Bón phân chuồng, phân gà, phân bò được ủ hoai mục từ 15 đến 20 kg cho mỗi cây.

4.4. Chăm sóc

Tỉa cành tạo tán giúp cây thông thoáng.

Phủ gốc bằng rơm khô hay cỏ khô đã ủ oai mục, không phủ gốc bằng xơ dừa, trấu chưa hoai.

Không giẫm lên mặt đất của gốc cây, gây tổn thương cho bộ rễ.

Những cây bệnh quá nặng cần đốn bỏ, thu gom hết rễ đốt và xử lý đất vùng rễ cây bệnh với vôi và phoi nắng một thòi gian (3- 4 tháng). Trường hợp vườn bị nhiễm nặng thì phoi đất 3- 4 tháng, luân canh 1 - 2 năm với một số cây khác.

Cần khoanh vùng những cây bị bệnh để tránh sự lây lan của nhện hại rễ, nấm và vi khuẩn từ cây này sang cây khác, từ liếp này sang liếp khác. Tỉa bỏ bớt trái (bệnh nhẹ) hoặc hết trái (bệnh khá nặng) trên cây để giúp cây mau phục hồi. Khi cây phục hồi (đọt non ra nhiều, lá non phải to và xanh mượt), chỉ nên giữ lượng trái trên cây vừa phải từ năm thứ 2 trở đi.

4.5. Tưới nước:

Thiết kế hệ thống tưới và thoát nước thật hoàn chỉnh.

Cung cấp đủ nước trong mùa nắng, thoát nước triệt để trong mùa mưa.

Tránh để ngập úng hay khô hạn quá mức.

Thiết kế đê bao khống chế nước trong trường hợp lũ lụt.

Tưới nước đầy đủ, đều đặn vào mùa nắng (2-3 ngày/lần), tránh tưới quá nhiều nước làm ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh trong đất phát triển và tấn công.

Thu hoạch không để trái rụng hay chạm mặt đất.

5. Các biện pháp trừ bệnh

5.1. Biện pháp sinh học

Sử dụng các sản phẩm hữu cơ vi sinh, phân chuồng, rơm khô, cỏ khô, phân hữu cơ đã hoai mục kết hợp vi sinh vật đối kháng như Trichoderma, Streptomyces, Bacillus, Paecilomyces (20g - 100g cho mỗi loại chế phẩm) cho mỗi cây (tùy thuộc vào tuổi cây) nhằm diệt mầm bệnh và tăng sức đề kháng cho cây.

5.2. Biện pháp hóa học

+ Rải vôi xung quanh tán cây và quét lên gốc cây trong phạm vi 0,5-1,2m từ mặt đất có tác dụng làm bất hoạt các bào tử nấm và vi khuẩn (sử dụng dung dịch vôi đậm đặc để quét lên thân chính vào cuối mùa nắng hay đầu mùa mưa).

+ Đối vói cây thì tưới gốc 4 lần mỗi lần cách nhau 3 tháng bằng một trong các thuốc Alfamite, Agri-fos 400, Noshield theo liều lượng khuyến cáo. Tưói ướt gốc và toàn bộ vùng rễ. Tùy đường kính tán mà tưói thuốc cho phù hợp

+ Kiểm tra thăm vườn thường xuyên trong mùa mưa để phát hiện cây bị bệnh sớm nhất và trị kịp thòi thì khả năng phục hồi là rất lớn và ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển cây.

+ Khi cây bị bệnh chết xanh xuất hiện trên vườn cần khoanh vùng cây nhiễm bệnh, cần cô lập, cách ly để tránh sự phát tán của bệnh.

+ Tỉa bỏ bót trái trên cây, hoặc hết trái trên cây tùy vào tình trạng bệnh của cây để giúp cây mau phục hồi.

* Vườn mới nhiễm bệnh

- Đối vói những cây bệnh và 2 hàng cây bên cạnh cần tưói (cần xói nhẹ đất xung quanh tán cây) hoặc bơm (phải có cần sục gốc) vào vùng rễ cây bệnh hỗn hợp dung dịch Pyridaben (Alfamite 15 EC - 2 ml / 1 lít nưóc), Acid phosphonate 400g/l và. Sau 7 -10 ngày tưói lần 2 vói Emamectin benzoate (Acplant 1.9 EC - 0,3 ml /1 lít nước) và Metalaxy+Mancozed . 15 ngày sau phun bổ sung các hợp chất hỗ trợ, kích thích ra rễ (Root 2 theo liều khuyến cao trên bao bì) để’ giúp cây nhanh chóng phục hồi.

- Khi cây phục hồi khung tán nhanh và chỉ nên giữ lượng trái trên cây vừa phải từ năm thứ 2 trở đi (tính từ lúc chồi tái sinh hình thành).

* Vườn nhiễm bệnh nặng

Những cây bệnh quá nặng cần đốn bỏ, loại bỏ gốc, thu gom hết rễ đốt và xử lý đất vói vôi và phoi nắng một thời gian (3- 4 tháng).

Trong trường hợp vườn bị nhiễm nặng thì luân canh với một số cây khác không phải là cây kí chủ của nhện, nấm và vi khuẩn hoặc phoi đất 3- 4 tháng. Sau đó mới làm đất và trồng lại

II. HIỆN TƯỢNG RẠN VỎ

1 Tác nhân: do yếu tố sinh lý và nấm là tác nhân thứ cấp bội nhiễm trên vết rạn vỏ của của trái.

2. Triệu chứng: Hiện tượng rạn vỏ thường phát hiện ở giai đoạn trái chuẩn bị da lươn (bóng vỏ), trên vỏ trái xuất hiện những vết răn màu nâu nhạt hay nâu xám xuất phát từ đáy trái chạy dọc lên phía cuống trái. Trên những trái bị nhiễm nặng thì những vết răn này có thể lan rộng chiếm hơn 2/3 diện tích bề mặt 

Cây quýt Hồng thuộc nhóm cây có múi có nguồn gốc nhiệt đói và á nhiệt đói, nhiệt độ thích hợp nhất để cây quýt Hồng sinh trưởng và phát triển từ 23-290C, chúng sẽ ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưói 130C và chết -50C. Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất của trái.

Đất trồng

Trồng cây quýt trên đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, đất rừng mới khai phá, đất thung lũng, đất phù sa cổ có tầng canh tác dày từ 80 - 100 cm, có hàm lượng mùn cao, cao ráo, thoát nước, mực nước ngầm dưới 1m. Vùng đất trồng quýt phải thoáng gió, cao ráo, thoát nước. Độ pH thích hợp trong đất từ 5,5- 6,0. Trước khi trồng một tháng đất phải được dọn sạch cỏ, cày bừa kỹ, chia lô, hàng, đào hố bón phân lót. Thời vụ trồng quýt vào cuối mùa mưa.

Tủ gốc giữ ẩm

Có thể xen canh các loài cây nông nghiệp ngắn ngày ở giữa khoảng cách cây trong vườn quýt để hạn chế cỏ dại.

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để tránh đất bị xói mòn, tăng thu nhập. Khi cây vào thời kỳ kinh doanh thì xu hướng hiện nay ở các nước tiên tiến là giữ cỏ trong vườn nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa hè và chống xói mòn đất trong mùa mưa. Tuy nhiên, khi

cỏ phát triển mạnh sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với cây quýt, vì vậy phải cắt bỏ bớt bằng dao hoặc máy cắt cỏ.

Tưới và tiêu nước

Cây quýt là loại cây trồng cần tưới nước đầy đủ nhất là giai đoạn trái phát triển. Mùa nắng nên thường xuyên tưới nước cho cây, vào mùa mưa do lượng mưa không phân bố đều, vì vậy vườn cần phải có mương cống để tiêu nước vào các tháng mưa nhiều, trách ngập úng kéo dài cây có thể chết.

Thiết kế đê bao khống chế nước trong trường hợp lũ lụt.

Tưới nước đầy đủ, đều đặn vào mùa nắng (2-3 ngày/lần) và tủ gốc bằng lá cây khô, cỏ khô,.. .để giữ ẩm cho đất; tránh tưới quá nhiều nước làm ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh trong đất phát triển, tấn công và gây hại.

Tỉa cành:

Tạo cho cây có bộ khung khoẻ mạnh.

Có những cành mang trái, trẻ, dồi dào sinh lực và phân bố giống nhau trên khung (sườn) và cành mẹ (cành chính).

- Thay thế những cành già, loại bỏ cành sâu bệnh, chết, cành vô hiệu...không có khả năng sản xuất bằng những cành non trẻ sẽ mang trái trong những năm tiếp theo.

Công việc tỉa cành được tiến hành hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành sau đây:

 Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả.

 Cành đan chéo nhau, những cành vượt trong thòi cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng vói quả.

-Để tránh mầm bệnh (tiềm ẩn virus, vivoid...) lây lan sang cây khác, cần phải khử trùng dụng cụ bằng cồn 90o    hoặc  hơ      lửa.    Đối    vói     những         cành  lón

hơn 3cm thì phải dùng cưa. Những vết thương lón sau khi cắt tỉa cần phải dùng son hoặc các thuốc trừ bệnh quét kín      vết     cắt     nhằm tránh  vết     thương        bị       thối    tạo

điều kiện thích hợp cho côn trùng và mầm bệnh tấn công.       Phân bón

Bón phân

Bón phân chuồng: phân gà, phân bò, phân doi hoai mục từ 15 đến 20 kg, chia 2 lần trong năm cho mỗi cây.

Bón phân hóa học (Theo quy trình bón phân của Phòng nông nghiệp huyện Lai Vung)

Thòi kỳ kinh doanh trên cây quýt có thể chia làm bốn lần như sau (cây đã cho trái ổn định):

Bón theo phân đon:

1/ Sau thu hoạch bón: 25% đạm + 25% lân + 5­20 kg hữu co/gốc/năm.

2/ Bốn tuần trước khi cây ra hoa bón: 25% đạm + 50% lân + 30% kali.

3/ Sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển bón: 50% đạm + 25% lân + 50% kali.

4/ Một tháng trước thu hoạch bón: 20% Kali. * Bón theo phân NPK chọn loại chuyên dùng cho Cây Ăn Qủa và các thời kỳ bón phân cho cây quýt Theo quy trình bón phân của Phòng nông nghiệp huyện Lai Vung

Hiện nay trên thị trường đã có bán các loại phân bón vô cơ chuyên dùng cho cây ăn quả rất thuận lọi cho nhà vườn sử dụng. Tùy tuổi cây, tình trạng sinh trưởng, lưọng quả đã thu hoạch của năm trước mà liều lưọng phân bón gia giảm.

Liều lượng phân bón cho cây quýt tùy thuộc vào nhiều yếu tố như loại đất, tình trạng sinh trưởng của cây, độ màu mở của đất, giống cây, tuổi cây, mật độ, năng suất vụ trước...Tùy từng điều kiện cụ thể mà quyết đinh lượng phân bón cho thích hợp cho cây quýt.

4.8 Biện pháp tổng hợp

Sau thu hoạch tiến hành:

Sử dụng phân lân (tình theo tình hình cây và tuổi cây mà liều lượng cho phù hợp) + phân chuồng ủ oai ở gốc 20kg/gốc

Trước khi hoa nở phun hoạt chất Propineb liều lượng theo khuyến cáo

Phân bón lá có chứa Cu, Zn, bo, Na (liều khuyến cáo ) và Salycilic acid 100ppm

Đến 30-35 ngày sau đậu trái (trái bằng đầu đủa ăn) phun Bo (11,2ml/9 lít nước) + Cu (11,2ml/9 lít nước) + Canxi (5,6ml/9lít nước) + NAA phun 2 lần và tưới Caxi (nồng độ 1%) qua rễ. Sử dụng Gibberellic acid (GA3) 25ppm

Đến 85 đến 120 ngày sử dụng Atonik, Trafos K, hoat chất Sulfur + Oxytetracycline Hydrochloride phun liều lượng theo khuyến cáo và tưới NAA liều theo khuyến cáo. Đến 40-65 ngày sau đậu trái (trái bằng ngón tay cái người lớn): Thuốc gốc đồng (hoat chất Copper Hydroxide), Metalaxyl+Mancozed, Thiophanate-methyl liều lượng theo khuyến cáo; mỗi hoạt chất phun 2 lần luân phiên nhau đến giai đoạn trái 165 ngày sau đậu trái

- Từ 165 đến 210 ngày sau đậu trái (trái chuyển sang chín sinh lý) phun phân bón lá Bayfolan. Và phun luân phiên một trong các hoạt chất sau Difernoconazole 150g/l + Propiconazole 150 g/l, Azoxystrobin 200 g/l, Difenoconazole 125 g/l; Validamycin A 5%; Kasugamycin 2%;

Kiểm soát chiều cao của tán cây:

Nên khống chế và duy trì chiều cao của trong tầm kiểm soát để khả năng tiếp nhận ánh sáng của bộ lá tối đa, tăng diện tích lá hữu hiệu cho quang hợp của bộ lá; thuận lợi trong việc quản lý vườn ở giai đoạn kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh. Duy trì sức sống tốt của cây, bảo đảm sự cân bằng sinh trưởng và kết trái, luôn luôn duy trì có khả năng cho trái ở mức tối hảo.

Tin xem nhiều

Tài liệu kỹ thuật chăn nuôi thỏ - Phần 5

Phần 5: KỸ THUẬT CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN Ở THỎ CÁI

1. ...

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăng chấm

Đặc điểm hình thái cá lăng chấm: Thân dài. Đầu dẹp bằng, thân và đuôi dẹp bên. Có 4 đôi ...

Nuôi cá lăng nha trong lồng bè

Cá lăng nha có tên khoa học là Mystus Wyckiioides, là loài cá nước ngọt, sống nhiều ở các nước ...

Kỹ thuật nuôi cá lăng vàng

Cá lăng vàng là một trong những loài cá lăng hiện diện ở các thủy vực nước ngọt và lợ ...

Kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm

Lăng nha (Mystus wyckiioides) là loài cá nước ngọt, thịt trắng chắc, không xương dăm, mùi vị thơm ngon, giá ...

Video xem nhiều

Kỹ thuật bón phân

(Nguồn THVL)

Dưa hấu không hạt - nông nghiệp công nghệ cao

Lâu nay mọi người thường khó chịu khi gặp phải vô số hạt cứng trong ruột dưa hấu. ...